Sách Khải huyền
Nguyên tác: The Revelation of Saint John
Tác giả: William Barclay
Ký hiệu tác giả: BA-W
DDC: 228 - Sách Khải huyền
Ngôn ngữ: Việt
Số cuốn: 1
Từ khóa: Mặc Khải, Thiên Chúa, Chúa Kitô, Hội Thánh, Con Chiên, Thiên Thần, Phán Xét, Tử Đạo, Giêrusalem Mới, Cánh Chung

Hiện trạng các bản sách

Mã số: 617BC0006702
Nhà xuất bản: Tôn Giáo
Năm xuất bản: 2008
Khổ sách: 23
Số trang: 356
Kho sách: Ban Thần
Tình trạng: Hiện có
» Thêm vào danh sách tác phẩm yêu thích

Mặc khải của Thiên Chúa cho loài người. Kh 1,1-3

5

Cách thức của Thiên Chúa Mặc khải. Kh 1,1-3

7

Các tôi tớ của Thiên Chúa. Kh 1,1-3

8

Những người được Phúc Âm của Chúa. Kh 1,1-3

9

Sứ điệp và người nhận. Kh 1,4-6

11

Ơn phúc và nguồn ơn phúc.Kh1,4-6

13

Thần khí theo bảy phương diện. Kh 1,4-6

14

Các danh hiệu của Chúa Giêsu. Kh 1,4-6

15

Điều Chúa Giêsu đã làm cho loài người. Kh 1,4-6

17

Vinh hiển sẽ đến. Kh 1,7

18

Thiên Chúa chúng ta tin cậy. Kh 1,8

20

Từ gian truân đến vương quốc. Kh 1,9

23

Được ơn thần khí vào ngày của Chúa. Kh 1,10-11

24

Sứ giả trên trời. Kh 1,12-13

26

Bức tranh của Chúa Kitô phục sinh. Kh 1, 14-18

28

Các danh hiệu của Chúa Phục Sinh. Kh 1, 14-18

31

Các danh hiệu của Chúa Phục Sinh. Kh 1, 14-18

32

Các Hội thánh và các Thiên Thần. Kh 1, 20

35

Tư gửi Hội Thánh Êphêxô. Kh 2,1-7

37

Đầu tiên và lớn nhất

37

Chúa Kitô và Hội Thánh Ngài. Kh 2, 1-7

40

Phải trả giá quá đắt cho đạo Chính thống. Kh 2, 1-7

42

Các bước trên hành trình quay trở lại. Kh 2, 1-7

43

Một tà giáo khốc hại. Kh 2, 1-7

45

Phần thưởng lớn. Kh 2, 1-7

45

Thư gửi hội thánh Ximiếcna. Kh 2, 8-11

50

Trong cơn thử thách. Kh 2, 8-11

55

Nguyên nhân gây hoạn nạn. Kh 2, 8-11

57

Mệnh lệnh và lời tuyên xưng của Chúa Cứu Thế. Kh 2, 8-11

59

Phần thưởng được hứa ban. Kh 2, 8-11

60

Thư gửi cho Hội thánh Pécgamô. Kh 2, 12-17

63

Hoàn cảnh hết sức khó khăn. Kh 2, 12-17

67

Số phận của sai lầm. Kh 2,12-17

69

Bánh từ Trời. Kh 2, 12-17

70

Viên sỏi trắng vàmột tên mới. Kh 2, 12-17

72

Được Thiên Chúa đổi tên. Kh 2, 12-17

74

Cơ nguy của sự thỏa hiệp

76

Tình trạn Hội Thánh tại Thyatira. Kh 2,18- 29

78

Nguồn mạch của sai lầm. Kh 2, 18-29

81

Giáo huấn của Giêsabên. Kh 2 18-29

81

Giáo huấn của Giêsabên. Kh 2, 18-29

83

Những lời hứa và đe dọa. Kh 2, 18-29

84

Xác Đê

86

Quá khứ huy hoàng. Hiện tại suy tàn

86

Sống mà chết. Kh 3,1-6

89

Một hội thánh không có sự sống. Kh 3,1-6

91

Hãy tỉnh thức. Kh 3, 1-6

92

Quyết lệnh của Chúa Phục sinh. Kh 3, 1-6

94

Số ít người trung tín. Kh 3, 1-6

95

Lời hứa theo ba phương diện. Kh 3, 1-6

96

Philađenphia

98

Thành Phố được khen ngợi

98

Các danh hiệu và danh xưng. Kh 3, 7-13

100

Cánh cửa được mở. Kh 3, 7-13

101

Những người được hưởng lời hứa. Kh 3, 7-13

103

Ai giữ thì được giữ. Kh 3, 7-13

104

Lời hứa và cảnh cáo. Kh 3, 7-13

105

Nhiều lời hứa. Kh 3, 7-13

107

Laođikia

109

Hội Thánh bị lên án

109

Những danh xưng của Chúa Kitô. Kh 3, 14-22

111

Chẳng nóng mà cũng chẳng lạnh. Kh 3, 14-22

114

Giàu mà nghèo. Kh 3, 14-22

117

Tình yêu sửa phạt. Kh 3 14-22

117

Điều này là cho bạn. Kh 3, 14-22

120

Các tầng trời mở ra và các cảnh cửa mở ra. Kh 4,1

121

Ngai Thiên Chúa. Kh 4, 2-3

123

Hai mươi bốn kỳ mục. Kh 4,4

124

Chung quanh ngai. Kh 4, 5-6a

126

Bốn con vật. Kh 4, 6b-8

129

Bốn con vật. Kh 4, 6b-8

130

Ý nghĩa biểu tượng của các con vật. Kh 4, 6b-8

132

Bài ca tụng. Kh 4, 6b-8

134

Chúa là Thiên Chúa và là Đấng sáng tạo. Kh 4, 9-11

135

Cuốn sách strong tay Chúa. Kh 5,1

136

Cuốn Sách định mệnh của Thiên Chúa. Kh 5, 2-4

138

Sư tử của Giuđa và chồi non của Đavít. Kh 5,5

140

Con Chiên. Kh 5, 6

142

Âm nhạc trên cõi trời. Kh 5,7-14

144

Lời cầu nguyện của các Thánh. Kh 5,8

145

Bài ca mới. Kh 5, 9-10

147

Bài ca của các con vật và các kỳ mục. Kh 5,9-10

148

Bài ca của các thiên trần. Kh 5, 11-12

150

Bài ca của mọi loài thọ tạo. Kh 5, 13-14

152

Việc tháo các Ấn

155

Bốn con ngựa đỏ như lửa của giao tranh. Kh 6,3-4

159

Ngựa ô đói kém. Kh 6, 5-6

160

Ngựa ôn dịch và sự chết. Kh 6, 7-8

162

Linh hồn các thánh Tử Đạo. Kh 6, 9-11

164

Tiếng kêu của các Thánh Tử Đạo. Kh 6, 9-11

165

Cả vũ trụ bị rúng động. Kh 6, 12-14

167

Thời kỳ kinh hoàng. Kh 6,15-17

169

Cứu vớt và ba thưởng. Kh 6, 15-17

171

Gió của Thiên Chúa. Kh 7,1-3

172

Thiên Chúa Hằng Sống. Kh 7, 1-3

174

Chiếc ấn của Thiên Chúa. Kh 7, 4-8

177

Vinh Quang của các Thánh Tử Dạo. Kh

179

Bài ca tụng của các Thiên Thần. Kh 7, 11-12

181

Được rửa sạch tội: Khải huyền 7,13-14

182

Máu của Chúa Giêsu Kitô: Khải huyền 7,13-14

184

Các Thánh đã giặt áo mình trong Máu Con Chiên: Khải huyền 7,13-14

185

Sự hy sinh của Chúa Cứu Thế và sự tiếp nhận của Con Người: Kh 7,13-14

187

Phục vụ trong vinh quanh: Kh 7,15

188

Hạnh phúc của những người được phúc: Kh 7,16-17

190

Đấng chăn chiên: Kh 7,16-17

191

Sự vắng lặng và tiếng sấm của lời cầu nguyện: Kh 8,1-5

193

Bảy Thiên Thần cầm Kèn: Kh 8,2.6

195

Việc thả lỏng các yếu tố thiên nhiên: Kh 8,7-12

196

Đại bàng bay: Kh 8,13

199

Mở cửa giếng vực thẳm: Kh 9,1-2

200

Châu chấu từ vực thẳm lên: Kh 9,3-12

201

Lũ châu chấu ma quái: Kh 9,3-12

204

Các kỵ binh của sự báo thù: Kh 9,13-21

205

Sự mặc khải không thể nói ra: Kh 10,1-4

207

Lời tuyên bố của thiên chúa về ngày cuối cùng: Kh 10,5-7

208

Những vui buồn của sứ giả Thiên Chúa: Kh 10,8-11

209

Việc đo đền thờ: Kh 11,1-2

211

Thời gian kinh hoàng: Kh 11,1-2

213

Hai chứng nhân: Kh 11,3-6

213

Người phụ nữ sinh con: Kh 12,1-12

217

Sự thù ghét của con rồng: Kh 12,1-5

220

Con trẻ được đưa ngay lên Thiên Chúa: Kh 12,6-12

221

Trốn vào sa mạc: Kh 12,6

223

Satan, kẻ thù của Thiên Chúa: Kh 12,7-10

224

Bài ca của các Thánh Tử Đạo: Kh 12,10-13

227

Cuộc tấn công của con rồng: Kh 12,13-18

229

Ma quỉ và con thú: Kh 13,1-5

231

Nguy hiểm trần gian và sự an toàn của Thiên Chúa: Kh 13,7-8

233

Vũ khí duy nhất của Kitô Hữu: Kh 13,9-10

235

Sức mạnh của con thú thứ hai: Kh 13,11-17

236

Dấu của con thú: Kh 13,11-17

237

Số của con thú : Kh 13,18

239

Những người của Thiên Chúa Cha: Kh 14,1

241

Bài ca chỉ những người thuộc về thiên chúa mới học được: Kh 14,2-3

243

Đóa hoa đẹp nhất: Kh 14,4a

244

Noi gương Chúa Kitô : Kh 14,4b-5

246

Lời kêu gọi thờ phượng Thiên Chúa: Kh 14,6-7

247

Sự sụp đổ của Babylon: Kh 14,8

248

Số phận của kẻ chối Chúa: Kh 14,9-12

250

Người trung tín được an nghỉ: Kh 14,13

252

Mùa gặt cánh chung: Kh 14,14-20

253

Những người chiến thắng của Chúa Kitô: Kh 15,1-2

255

Bài ca của những người chiến thắng của Chúa Kitô: Kh 15,3-4

256

Các thiên thần mang bảy tai ương: Kh 15,5-7 ..258

258

Ánh vinh quang không đến gần được: Kh 15,8 ..260

260

Bảy chén thịnh nộ của Thiên Chúa: Kh 16

261

Những cơn kinh hoàng từ Thiên Chúa: Kh 16,1-11

264

Các đạo quân từ phương đông: Kh 16,12

266

Các thần ô uế giống như ếch nhái: Kh 16,13-16.

267

Ngôn sứ giả: Kh 16,13-16

268

Hácmơghitđô (Harmagedon): Kh 16,13-16

270

Thiên nhiên xung trận: Kh 16,17-21

271

Thành phố đã trở thành con điếm: Kh 17,1-2

272

Mặc khải trong sa mạc: Kh 17,3

273

Mẹ các gái điếm: Kh 17,4-5

274

Say máu các thánh và máu các chứng nhân: Kh 17,6

276

Quỉ vương nhập thể: Kh 17,7-11

277

Ý đồ của loài người và chủ đích của Thiên Chúa: Kh 17,12-18

279

Số phận của Roma: Kh 18,1-3

281

Hãy ra khỏi: Kh 18,4-5

282

Số phận của kẻ kiêu ngạo: Kh 18,6-8

283

Lời than khóc của các vua: Kh 18,9-10

285

Lời than khóc của các con buôn: Kh 18,11-16

288

Lời than khóc của các con buôn: Kh 18,11-16

290

Lời than khóc của các chủ tàu: Kh 18,17-19

294

Niềm vui giữa cảnh than khóc: Kh 18,20

295

Cảnh hoang tàn cuối cùng: Kh 18,21-24

296

Bài ca ngợi khen cảm tạ của các thiên thần: Kh 19,1-2

298

Bài ca ngợi khen cảm tạ của cõi thiên nhiên và Hội Thánh Kh 19,3-5

300

Bài ca tụng của những kẻ được cứu chuộc: Kh 19,6-8

301

Đấng toàn năng và vương quốc ngài: Kh 19,6-8

303

Sự thờ phượng duy nhất: Kh 19,9-10a

304

Tinh thần Ngôn sứ: Kh 19,10b

306

Chúa Kitô chiến thắng: Kh 19,11

307

Danh hiệu không ai biết: Kh 19,12

309

Lời của Chúa trong hành động: Kh 19,13

310

Cơn thịnh nộ báo thù: Kh 19,14-16

312

Số phận của những kẻ thù Chúa Cứu Thế: Kh 19,17-21

313

Satan bị xiềng: Kh 20,1-3

314

Đặc quyền trong cuộc phán xét: Kh 20,4-5

315

Đặc quyền của các chứng nhân của Chúa Cứu Thế: Kh 20,6

137

Tranh chấp cuối cùng: Kh 20,7-10

317

Phán xét sau cùng: Kh 20,11-15

318

Phán xét sau cùng: Kh 20,11-15

320

Công cuộc sáng tạo mới: Kh 21,1

322

Giêrusalem mới: Kh 21,2

323

Giêrusalem mới: Kh 21,2

324

Thông hiệp với Chúa: Kh 21,3-4

326

Thông hiệp với Chúa: Kh 21,3-4

327

Mọi sự đều mới: Kh 21,5-6

328

Vinh và nhục: Kh 21,7-8

329

Người đem thị kiến đến: Kh 21,9-10

331

Ánh sáng của thành thánh: Kh 21,11

332

Tường và các cửa thành: Kh 21,12

332

Các cửa thành: Kh 21,13

333

Kích thước của thành: Kh 21,14-17

334

Bửu thạch của thành: Kh 21,18-21

336

Hiện diện của Thiên Chúa: Kh 21,22-23

338

Cả thế gian đều vì Thiên Chúa: Kh 21,24-27

339

Tiếp nhận và từ bỏ: Kh 21,24-27

342

Sông nước trường sinh: Kh 22,1-2

343

Cây sự sống: Kh 22,1-2

344

Vẻ đẹp của sự thánh thiện: Kh 22,3-5

345

Những lời cuối cùng: Kh 22,6-9

346

Thì giờ đã gần và thì giờ đang qua mau: Kh 22,10-11

347

Những lời tuyên bố của Chúa Kitô: Kh 22,12-13

348

Được tiếp nhận và bị từ chối: Kh 22,14-15

349

HOIPLUNONTESTASSTOLASHOI

 

POIOUNTESTASENTOLAS

350

Lời bảo đảm cho chân lý: Kh 22,16

351

Lời mời gọi quan trọng: Khải Huvền 22,17

352

Lời cảnh cáo: Kh 22,18-19

353

Những lời cuối cùng: Kh 22,20-21

355